Một số sai sót thường gặp trong đầu tư xây dựng
Nội dung bài
- 1. Kiểm toán việc chấp hành pháp luật về đầu tư xây dựng
- 2. Đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của DAĐT
- 3. Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành
- 4. Quản lý chất lượng và tiến độ công trình
- 5. Chi phí đầu tư tính vào giá trị tài sản (và chi phí xin loại bỏ)
- 6. Giá trị tài sản hình thành qua đầu tư
- 7. Kiểm toán tình hình công nợ và vật tư, thiết bị tồn đọng
- 8. Kiểm tra hiện trường
MỘT SỐ SAI SÓT, GIAN LẬN THƯỜNG GẶP
( Ban hành kèm theo Quyết định số 821 /QĐ-KTNN ngày 13 tháng 07 năm 2026 của Tổng Kiểm toán nhà nước)
1. Kiểm toán việc chấp hành pháp luật về đầu tư xây dựng
1.1. Công tác lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư
- Công tác lập, thẩm tra, thẩm định, quyết định, điều chỉnh chủ trương đầu tư (nếu có) không đúng về trình tự, thẩm quyền và thời gian quy định.
- Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư không đúng chuyên môn hoặc không đủ điều kiện năng lực; nội dung Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư hoặc Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi sơ sài, không đầy đủ các nội dung nghiên cứu sơ bộ về sự cần thiết, tính khả thi và hiệu quả theo quy định; dự kiến phương án huy động vốn, nhu cầu vốn và giải ngân hằng năm không phù hợp với tiến độ thực hiện dự án.
- Dự án không phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch.
- Thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn chưa phù hợp dẫn đến khi thực hiện không đủ vốn, hoặc phải kéo dài tiến độ, gây nợ đọng xây dựng cơ bản.
- Thẩm định vốn cho các dự án không thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, không có trong danh mục kế hoạch đầu tư công trung hạn được cấp thẩm quyền phê duyệt.
- Thẩm định nguồn vốn không đúng danh mục, sai đối tượng, vượt mức vốn, sai tỷ lệ hỗ trợ quy định đối với các nguồn vốn chương trình mục tiêu của Chính phủ, chương trình mục tiêu quốc gia theo nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước kỳ kế hoạch; thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn vượt quá hạn mức quy định của pháp luật về đầu tư công.
- Thời gian phân kỳ giữa các giai đoạn của dự án không phù hợp với khả năng huy động vốn hoặc giải pháp kỹ thuật phân kỳ đầu tư gây lãng phí và thiếu cơ sở pháp lý.
- Trình tự, thủ tục phê duyệt không đầy đủ (Ví dụ: chưa trình Hội đồng nhân dân cho ý kiến/quyết định đối với các dự án thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật Đầu tư công)
1.2. Công tác lập, thẩm tra, thẩm định, quyết định dự án đầu tư; điều chỉnh dự án đầu tư (nếu có)
- Về trình tự, thẩm quyền: Công tác lập, thẩm tra, thẩm định, quyết định phê duyệt và điều chỉnh dự án không đúng trình tự, thẩm quyền, thời hạn theo quy định. Lạm dụng áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn hoặc cơ chế vừa thiết kế vừa thi công đối với các dự án không đủ điều kiện là "dự án đầu tư công đặc biệt".
- Về tính thống nhất, phù hợp: Quyết định phê duyệt dự án không phù hợp với Quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư đã được chấp thuận. Dự án không phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, hoặc quy hoạch theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn.
- Về nội dung hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi: Nội dung dự án sơ sài, thiếu các tài liệu điều tra thăm dò thiết yếu về nguồn vật liệu, phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Không thực hiện đầy đủ thủ tục pháp lý về môi trường (thiếu Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Giấy phép môi trường) đối với dự án thuộc diện bắt buộc. Chưa tuân thủ việc áp dụng BIM trong Báo cáo nghiên cứu khả thi đối với các dự án thuộc lộ trình bắt buộc.
- Về nguồn vốn: Quyết định phê duyệt dự án chưa xác định được cụ thể nguồn vốn; khả năng phân bổ và cân đối vốn không phù hợp với tiến độ thực hiện.
- Về xác định TMĐT: Xác định TMĐT không chính xác, thiếu cơ sở. Xác định chi phí dự phòng không tách rõ chi phí dự phòng cho khối lượng, công việc phát sinh và chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá; hồ sơ lập TMĐT chưa thể hiện công thức tính toán xác định dự phòng trượt giá. Những công việc tư vấn chưa có quy định về định mức chi phí nhưng không lập, duyệt dự toán hoặc duyệt với đơn giá cao bất hợp lý.
- Về điều chỉnh dự án, điều chỉnh TMĐT: Các căn cứ để điều chỉnh dự án không phù hợp với quy định của Luật Xây dựng (như không do sự kiện bất khả kháng, không do thay đổi quy hoạch, hoặc không chứng minh được việc điều chỉnh mang lại hiệu quả cao hơn). Việc điều chỉnh TMĐT thiếu căn cứ; chưa xác định rõ nguồn vốn bố trí cho phần tăng TMĐT điều chỉnh.
1.3. Công tác thực hiện dự án đầu tư
1.3.1. Về khảo sát, thiết kế và dự toán:
- Hồ sơ khảo sát xây dựng sơ sài, không đầy đủ số liệu (đặc biệt là khảo sát nguồn vật liệu, mỏ vật liệu đất, đá, cát thiếu thông tin) hoặc số liệu khảo sát không bảo đảm độ tin cậy, không phản ánh đúng thực tế làm căn cứ lập thiết kế.
- Hồ sơ thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở không đầy đủ, không thống nhất giữa các giai đoạn; sai lệch về quy mô, công nghệ, công suất, cấp công trình so với quyết định phê duyệt dự án. Chưa tuân thủ việc áp dụng BIM theo lộ trình bắt buộc đối với các dự án có yêu cầu.
- Công tác dự toán: Vận dụng sai định mức, đơn giá; xác định đơn giá đối với những công việc chưa có định mức thiếu căn cứ; tính toán sai, tính thừa hoặc thiếu khối lượng công tác thi công.
1.3.2. Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Công tác lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường không đúng quy định (như xác định sai đối tượng, sai nguồn gốc đất, áp sai đơn giá). Hồ sơ bồi thường không đầy đủ thủ tục pháp lý.
- Thực hiện quyết định thu hồi đất khi chưa hoàn thành việc phê duyệt phương án bồi thường và chưa bố trí xong khu tái định cư
1.3.3. Về lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng
- Không thực hiện đấu thầu qua mạng đối với các gói thầu thuộc diện bắt buộc theo quy định của Luật Đấu thầu.
- E-HSMT đưa ra các tiêu chí về năng lực, kinh nghiệm hoặc thông số kỹ thuật mang tính đặc thù nhằm hạn chế sự tham gia của các nhà thầu hoặc tạo lợi thế cho một nhà thầu cụ thể (cài cắm tiêu chí vi phạm Luật Đấu thầu). Phê duyệt KQLCNT không đúng thẩm quyền hoặc sai thời gian quy định.
- Hợp đồng thi công không chặt chẽ, thiếu các quy định bắt buộc (như chưa quy định rõ số lần, giai đoạn, thời hạn thanh toán; chưa quy định cụ thể điều kiện điều chỉnh khối lượng, điều chỉnh giá; thiếu chế tài phạt vi phạm hợp đồng;…).
- Công tác bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng không đúng quy định về tỷ lệ và thời hạn hiệu lực.
1.3.4. Về thi công, giám sát, nghiệm thu và thanh toán:
- Thi công sai thiết kế, sai biện pháp thi công được phê duyệt. Khối lượng phát sinh không có thiết kế, dự toán phê duyệt bổ sung, sửa đổi trước khi thực hiện.
- Nghiệm thu, thanh toán sai quy định của hợp đồng; nghiệm thu, thanh toán khống khối lượng chưa thi công thực tế tại hiện trường.
- Không chấp hành đúng quy định về giám sát thi công, giám sát quyền tác giả. Hồ sơ quản lý chất lượng không đầy đủ: Thiếu biên bản nghiệm thu từng phần; thiếu chứng nhận xuất xứ (CO), chứng nhận chất lượng (CQ), hợp quy của vật tư, thiết bị đầu vào (đặc biệt là thiết bị nhập khẩu).
- Nhật ký thi công ghi sơ sài, mang tính hồi ký, không phản ánh đầy đủ diễn biến thời tiết, nhân lực, thiết bị, các phát sinh và sự cố.
- Nhà thầu chưa thiết lập hệ thống quản lý chất lượng đầy đủ theo quy định hoặc có hệ thống nhưng hoạt động không hiệu lực.
1.3.5. Công tác nghiệm thu, thanh quyết toán, đưa công trình vào khai thác, sử dụng
- Về công tác nghiệm thu, hoàn công:
+ Hồ sơ nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng trình tự, thủ tục quy định.
+ Nghiệm thu hoàn thành khi công trình chưa đủ điều kiện (đặc biệt là chưa có văn bản chấp thuận nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy; chưa hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường theo quy định).
+ Đưa công trình vào khai thác, sử dụng khi chưa có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (đối với các công trình thuộc đối tượng bắt buộc phải kiểm tra công tác nghiệm thu theo Luật Xây dựng).
+ Hồ sơ hoàn công không đầy đủ, sơ sài, không đúng với thực tế thi công tại hiện trường, đặc biệt thiếu các bản vẽ hoàn công đối với các bộ phận công trình bị che khuất.
- Về công tác quyết toán:
+ Báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành chưa lập, lập chậm thời gian hoặc lập không đúng quy định.
+ Đưa vào Báo cáo quyết toán các khoản chi phí không hợp lệ, không đúng thẩm quyền, hoặc hạch toán sai các chi phí đầu tư không tính vào giá trị tài sản hình thành qua đầu tư.
- Về công tác bàn giao, vận hành và bảo trì:
+ Bàn giao đưa vào sử dụng đối với dự án khu đô thị, khu nhà ở khi chưa hoàn thành đầu tư xây dựng bảo đảm đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo quy hoạch và phân kỳ đầu tư đã được phê duyệt.
+ Chưa tổ chức lập và phê duyệt quy trình bảo trì công trình xây dựng trước khi đưa hạng mục công trình, công trình xây dựng vào khai thác, sử dụng.
+ Không bàn giao, hoặc bàn giao không đầy đủ hồ sơ phục vụ quản lý, vận hành và bảo trì công trình cho đơn vị sở hữu, vận hành, quản lý sử dụng công trình.
2. Đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của DAĐT
- Lựa chọn phương án đầu tư, địa điểm hoặc công nghệ thiếu sự đánh giá, so sánh tối ưu về chi phí và hiệu quả; không xem xét đầy đủ tính kết nối, đồng bộ với hệ thống hạ tầng hiện hữu.
- Sử dụng các thông số làm căn cứ lập dự án (quy mô dân số, nhu cầu thị trường...) thiếu cơ sở thực tiễn, dẫn đến việc quyết định đầu tư với quy mô quá lớn, dư thừa công suất và không phát huy được hiệu quả kinh tế.
- Thiết kế vượt quá nhu cầu sử dụng thực tế, áp dụng các giải pháp quá tốn kém (diện tích phụ trợ quá lớn, tiêu chuẩn vật liệu vượt xa yêu cầu, …) dẫn đến làm đội vốn đầu tư, tăng chi phí vận hành, bảo trì, ….
- Khảo sát, thiết kế thiếu chính xác dẫn đến phải bổ sung, phát sinh khối lượng lớn làm chậm tiến độ và vượt dự toán.
- Có hiện tượng cố tình lập dự toán sai lệch (lập dự toán thấp để dự án dễ được phê duyệt chủ trương rồi xin điều chỉnh tăng, hoặc lập dự toán cao để mua sắm thiết bị đắt tiền, …).
- Tiến độ thi công kéo dài do nguyên nhân chủ quan gây lãng phí nguồn lực.
- Công tác quản lý, giám sát lỏng lẻo dẫn đến khi nghiệm thu đưa vào sử dụng công trình có khiếm khuyết kỹ thuật nhưng không yêu cầu khắc phục ngay, dẫn đến quá thời hạn bảo hành nhà nước phải tự bỏ chi phí ra sửa chữa.
- Sử dụng các tổ chức, cá nhân tham gia quản lý, tư vấn và thi công không có đủ năng lực về tài chính, chuyên môn và kinh nghiệm, làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của dự án.
3. Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành
- Về nguồn vốn đầu tư: Hạch toán không đầy đủ, phân loại sai nguồn vốn; áp dụng sai tỷ giá ngoại tệ, sai thời điểm quy đổi; sử dụng nguồn vốn không đúng mục đích và nguyên tắc tài chính đã được quyết định đầu tư.
- Về khối lượng xây lắp: Quyết toán khống khối lượng (không đúng thực tế thi công); tính toán khối lượng sai so với thiết kế và bản vẽ hoàn công; tính trùng khối lượng ở các điểm giao cắt. Quyết toán khối lượng phải dỡ bỏ do lỗi của nhà thầu; khối lượng bổ sung do lỗi nhà thầu tính thiếu trong HSDT; không giảm trừ giá trị sản phẩm, vật tư thu hồi.
- Về đơn giá, định mức xây lắp: Áp dụng sai đơn giá hợp đồng, giá trúng thầu; vận dụng sai định mức làm tăng chi phí vật liệu. Áp dụng sai hệ số vận chuyển, sai hệ số điều chỉnh giá, sai thời điểm hoặc nguồn chỉ số trượt giá; đưa vật tư vào công trình không đúng chủng loại quy định. Tính sai định mức phụ phí hoặc tính phụ phí xây lắp trên cả giá trị thiết bị lắp đặt.
- Về chi phí thiết bị: Quyết toán thiết bị không bảo đảm tính năng kỹ thuật, chất lượng và xuất xứ theo yêu cầu; số lượng thiết bị, phụ tùng thay thế không đầy đủ theo hợp đồng. Áp dụng sai tỷ giá ngoại tệ đối với thiết bị nhập ngoại; thanh toán sai chế độ hoặc thiếu thủ tục đối với các chi phí lưu kho bãi, cước vận chuyển, kiểm tra hàng hóa, bảo hành, bảo dưỡng thiết bị.
- Về công tác bồi thường, hỗ trợ: Bồi thường sai diện tích đất, sai nguồn gốc đất, xác định sai cấp nhà/loại đất; áp sai đơn giá bồi thường. Tiền bồi thường, hỗ trợ không được chi trả đầy đủ, trực tiếp đến tay người dân được bồi thường; thanh toán đền bù cho cả phần diện tích đất công cộng.
- Về chi phí tư vấn, chi phí khác và các khoản thu/nộp: Lập khống khối lượng khảo sát; áp dụng sai tỷ lệ (%) đối với các chi phí tư vấn/quản lý tính theo định mức. Áp sai thuế suất; thanh toán cho nhà thầu bao gồm thuế nhưng nhà thầu xuất hóa đơn không thuế. Không ghi giảm chi phí đối với giá trị phế liệu thu hồi hoặc tiền bồi thường bảo hiểm công trình. Quyết toán chi phí bảo hiểm công trình nhưng thực tế không mua. Tính và phân bổ lãi vay đầu tư không đúng quy định.
4. Quản lý chất lượng và tiến độ công trình
4.1. Về quản lý chất lượng
- Về vật tư, thiết bị: Thi công không đúng quy trình kỹ thuật; đưa nguyên vật liệu, thiết bị vào sử dụng không đúng tiêu chuẩn dự án, thiếu các hồ sơ chứng minh xuất xứ (CO), chất lượng (CQ) và chứng nhận hợp quy.
- Về thi công, giám sát: Thi công sai thiết kế, sai biện pháp tổ chức thi công đã được phê duyệt; công tác quản lý, giám sát hiện trường lỏng lẻo, không phát hiện và yêu cầu xử lý kịp thời các khiếm khuyết, sai sót kỹ thuật. Khối lượng phát sinh được thi công khi chưa có thiết kế, dự toán phê duyệt bổ sung.
- Về hồ sơ chất lượng: Hồ sơ quản lý chất lượng lập không đầy đủ, thiếu biên bản nghiệm thu từng phần (đặc biệt là các phần việc bị che khuất); nhật ký công trình ghi sơ sài, mang tính đối phó, không phản ánh trung thực diễn biến phát sinh và sự cố tại hiện trường.
Về hệ thống quản lý: Nhà thầu chưa thiết lập hệ thống quản lý chất lượng đầy đủ theo quy định hoặc có hệ thống nhưng hoạt động không có hiệu lực.
4.2. Về quản lý tiến độ
- Nguyên nhân do nhà thầu: Năng lực tài chính, quản lý yếu kém; không huy động đủ máy móc, nhân lực như cam kết trong hồ sơ thầu; thi công cầm chừng, cố tình kéo dài tiến độ để chờ điều chỉnh giá hoặc để trục lợi trong công tác thanh toán.
- Nguyên nhân từ chủ đầu tư, tư vấn: Công tác khảo sát, thiết kế ban đầu không phù hợp dẫn tới quá trình thi công phải thay đổi, bổ sung thiết kế nhiều lần; năng lực điều hành, xử lý vướng mắc của Chủ đầu tư, Ban QLDA và Tư vấn giám sát còn hạn chế.
- Nguyên nhân khác:
+ Do ảnh hưởng của các sự kiện bất khả kháng xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước (như thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, sự cố môi trường, hỏa hoạn, địch họa...).
+ Do hoàn cảnh thay đổi cơ bản vượt quá tầm kiểm soát hợp lý (như điều kiện địa chất bất thường không lường trước được khi khảo sát; Nhà nước thay đổi chính sách, pháp luật làm ảnh hưởng trực tiếp đến dự án).
+ Do biến động về giá cả vật tư, vật liệu xây dựng quá lớn trên thị trường.
+ Do chậm bàn giao mặt bằng thi công không do lỗi của nhà thầu (chủ yếu do vướng mắc, chậm trễ trong công tác bồi thường, hỗ trợ, GPMB và tái định cư).
+ Do bố trí kế hoạch vốn không bảo đảm theo đúng kế hoạch, hoặc tiến độ cấp phát, giải ngân chậm dẫn tới phải kéo dài thời gian thực hiện dự án.
+ Chậm giải quyết các thủ tục pháp lý phát sinh, chậm phê duyệt điều chỉnh thiết kế, dự toán....
- Về thủ tục điều chỉnh tiến độ: Thực hiện gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng, điều chỉnh tiến độ dự án thiếu căn cứ pháp lý, không phân định rõ nguyên nhân do lỗi chủ quan, khách quan, biến động giá lớn hay do điều kiện bất khả kháng; thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh tiến độ không đúng quy định.
- Về theo dõi và áp dụng chế tài: Chủ đầu tư, đơn vị giám sát không theo dõi, ghi nhận cụ thể, kịp thời các sự kiện gây chậm tiến độ thi công tại hiện trường làm cơ sở xác định trách nhiệm; thiếu kiên quyết trong việc xử lý, phạt vi phạm hợp đồng đối với các nhà thầu thi công chậm tiến độ do lỗi chủ quan.
5. Chi phí đầu tư tính vào giá trị tài sản (và chi phí xin loại bỏ)
- Đưa các khoản thiệt hại về vật tư, thiết bị do lỗi chủ quan của nhà thầu thi công (Bên B) vào nhóm chi phí đầu tư xin loại bỏ (hủy bỏ) để chủ đầu tư/Nhà nước phải gánh chịu thiệt hại.
- Tính sai khối lượng, giá trị các hạng mục xin hủy bỏ; thiếu biên bản kiểm kê, xác nhận nguyên nhân khách quan, bất khả kháng của cấp có thẩm quyền đối với các khoản chi phí không tạo thành tài sản.
- Các sai sót khác làm sai lệch chi phí đầu tư thực tế đã được nêu trong phần kiểm toán chi phí đầu tư xây dựng thực hiện.
6. Giá trị tài sản hình thành qua đầu tư
- Tính toán sai hệ số quy đổi vốn đầu tư (đối với các dự án thực hiện trong nhiều năm) do xác định sai thời điểm hoặc áp dụng sai phương pháp quy đổi.
- Phân loại nhầm lẫn giữa tài sản dài hạn (tài sản cố định) và tài sản ngắn hạn (lưu động), dẫn đến hạch toán sai lệch bản chất tài sản của Nhà nước.
- Bỏ sót giá trị tài sản nhận bàn giao từ các dự án khác trong quá trình đầu tư, hoặc bàn giao thiếu đối tượng quản lý, sử dụng.
- Danh mục tài sản trên hồ sơ bàn giao không khớp đúng với thực tế hiện trường.
7. Kiểm toán tình hình công nợ và vật tư, thiết bị tồn đọng
- Số liệu công nợ theo dõi trên sổ kế toán thiếu cơ sở, thiếu chứng từ chứng minh; chưa thực hiện kiểm tra, đối chiếu và xác nhận công nợ đầy đủ với các bên liên quan khi kết thúc dự án.
- Không có biện pháp theo dõi, đôn đốc thu hồi kịp thời các khoản nợ phải thu, nợ tạm ứng quá hạn (đặc biệt đối với các tổ chức, cá nhân đã giải thể, phá sản hoặc chuyển đổi bộ máy), dẫn đến nguy cơ thất thoát, mất khả năng thu hồi vốn.
- Vật tư, thiết bị dư thừa, tồn đọng (hoặc phế liệu thu hồi) sau dự án không được tổ chức kiểm kê, đánh giá và lập phương án xử lý (thanh lý, điều chuyển) chặt chẽ, gây lãng phí tài sản.
8. Kiểm tra hiện trường
- Kích thước hình học của một số cấu kiện, mặt cắt dọc, mặt cắt ngang, chiều dày các lớp vật liệu (nền, móng, lớp đắp...) thi công thực tế không đạt yêu cầu, sai lệch so với hồ sơ thiết kế kỹ thuật và bản vẽ hoàn công.
- Một số hạng mục, bộ phận công trình thực tế không được thi công hoặc thi công thay đổi chủng loại vật tư so với hồ sơ thiết kế, hợp đồng nhưng vẫn được lập bản vẽ hoàn công.
- Nghiệm thu, thanh toán khối lượng chưa thi công: Các hạng mục, công việc, thiết bị đã được lập hồ sơ nghiệm thu, thanh toán nhưng thực tế kiểm tra tại hiện trường chưa được thực hiện thi công, lắp đặt (lập khống khối lượng).